Chiến lược, phân tích & tâm lý giao dịch · 15 phút đọc

Hướng dẫn giao dịch phái sinh cho người mới: từ đặt lệnh đến đóng vị thế trên phần mềm

Một lệnh phái sinh đi qua 6 bước; bước người mới sai nhất là đóng vị thế bằng lệnh ngược chiều. Hướng dẫn giao dịch phái sinh trọn vòng đời, xem ngay.

Chín giờ tối, cơm nước xong, bạn mở phần mềm giao dịch lên. Màn hình chi chít số nhấp nháy, mấy cái bảng chồng lên nhau, con trỏ chuột lơ lửng ở giữa vì không biết bấm vào đâu trước. Bạn hiểu margin, giải thích được stop-loss cho đứa bạn cùng phòng, thậm chí biết vì sao giá cà phê nhảy lúc nửa đêm. Thứ chặn bạn tối nay không phải kiến thức thị trường.

Đó là ma sát thao tác, và bài hướng dẫn giao dịch phái sinh này viết ra để gỡ đúng chỗ đó: đi trọn một vòng đời lệnh, đặt, chờ, sửa, huỷ, đóng, ở mức nguyên tắc chung đúng với hầu hết phần mềm, không gắn với sản phẩm của ai và không mời bạn mở tài khoản ở đâu.

Ma sát thao tác loại nhiều người mới hơn biến động giá, và nó làm việc đó một cách âm thầm. Không ai bỏ cuộc rồi nói "tôi không biết bấm nút nào"; họ nói "chắc cái này không hợp với tôi", đóng phần mềm, rồi ba tháng sau vẫn chưa mở lại. Bài này trả lời câu hỏi bấm nút nào. Nếu câu hỏi của bạn là tuần này nên làm gì thì lộ trình 90 ngày từ demo đến lệnh thật mới là bài đúng. Giả định duy nhất ở đây: bạn đã mở tài khoản demo và đang mở nó ra trước mặt.

Sáu bước, đọc trong một phút: cách giao dịch phái sinh trên phần mềm gói gọn trong sáu bước, gần như giống nhau ở mọi nền tảng. (1) Chọn mã hợp đồng, đúng mặt hàng và đúng tháng đáo hạn. (2) Chọn chiều: MUA (long) nếu kỳ vọng giá lên, BÁN (short) nếu kỳ vọng giá xuống. (3) Chọn loại lệnh: MARKET để khớp ngay theo giá thị trường, LIMIT để chờ đúng mức giá mình muốn. (4) Nhập khối lượng theo số hợp đồng, kèm mức chốt lời và cắt lỗ nếu phiếu lệnh có ô đó. (5) Gửi lệnh rồi theo dõi ở sổ lệnh: lệnh còn chờ thì sửa hoặc huỷ được, lệnh đã khớp thì không. (6) Đóng vị thế bằng một lệnh ngược chiều với lệnh đã mở. Bước 6 là bước người mới sai nhiều nhất.

Mọi hướng dẫn giao dịch phái sinh đều bắt đầu ở đây: 4 vùng trên màn hình

Phần mềm nào cũng bày ra vài chục thành phần cùng lúc, nhưng bạn chỉ cần nhận ra bốn vùng. Tên gọi, màu sắc và vị trí đổi theo từng nhà cung cấp; chức năng thì không đổi.

Vùng 1, danh sách mã và bảng giá. Nơi liệt kê các hợp đồng đang giao dịch cùng giá mua, giá bán và giá khớp gần nhất. Ở đây bạn làm đúng một việc: chọn hợp đồng để nó được nạp sang phiếu lệnh. Đọc hiểu ý nghĩa từng cột là chuyện khác, có bài riêng ở cách đọc bảng giá hàng hoá phái sinh.

Vùng 2, biểu đồ giá. Dùng để phân tích trước khi quyết định. Một số phần mềm cho kéo thả đặt lệnh ngay trên biểu đồ, nhưng đó là tính năng nâng cao, bỏ qua trong tuần đầu cũng không sao.

Vùng 3, phiếu lệnh (order ticket). Cái ô nhỏ có nút Buy và Sell, thường nằm bên phải hoặc bật ra khi bạn nhấp đúp vào một mã. Đây là nơi lệnh được tạo ra, và gần như toàn bộ bài này nói về vùng 3.

Vùng 4, sổ lệnh và danh mục vị thế. Thường là dải bảng dưới cùng, chia thành vài tab: lệnh đang chờ, lệnh đã khớp trong ngày, vị thế đang mở, lịch sử giao dịch. Vùng này cho bạn biết mình vừa làm gì, và người mới hay bỏ qua nó nhất vì trông nó giống một bảng kế toán hơn là một công cụ giao dịch. Chi tiết từng tab nằm ở cách xem vị thế đang mở và lịch sử lệnh.

Nếu tối nay bạn chỉ làm được một việc, hãy mở phần mềm ra và gọi tên đủ bốn vùng, chưa cần bấm gì cả. Ma sát tụt xuống thấy rõ khi màn hình từ "một mớ số" biến thành "bốn cái hộp, mỗi hộp một nhiệm vụ".

Bước 1 và 2: chọn hợp đồng, chọn chiều, điền phiếu lệnh

Phiếu lệnh của phần mềm nào cũng hỏi bốn thứ giống nhau: mã hợp đồng kèm tháng đáo hạn (một mặt hàng có nhiều kỳ hạn chạy song song, chọn nhầm kỳ hạn là lỗi rất phổ biến), chiều lệnh Buy hay Sell, khối lượng, và giá. Chỗ gãy tư duy lớn nhất nằm ở ô khối lượng, vì nó đếm số hợp đồng chứ không đếm số tiền. Người quen mua cổ phiếu hay nghĩ "mình bỏ 20 triệu" rồi đi tìm ô để gõ con số đó; phiếu lệnh phái sinh không có ô đó. Một hợp đồng đã là quy mô cố định do sở quy định, nên "mua ít cho an toàn" nghĩa là hạ số hợp đồng xuống, thấp nhất là 1, chứ không phải hạ số tiền; vốn cần cho một hợp đồng thì tuỳ mặt hàng và tính riêng ở 1 hợp đồng phái sinh bao nhiêu tiền. Còn chiều lệnh: Buy mở vị thế long khi kỳ vọng giá lên, Sell mở vị thế short khi kỳ vọng giá xuống; nếu mấy chữ này còn lạ, đọc vị thế long, short, open, closed nghĩa là gì trước. Thao tác điền phiếu lệnh cho lệnh đầu tiên nằm ở hướng dẫn đặt lệnh mua/bán từng bước, cách bóc tách ký tự tháng trong mã thì ở cách đọc mã hợp đồng phái sinh.

Bước 3: chọn MARKET, LIMIT hay STOP cho tình huống của bạn

Bốn loại lệnh cơ bản khác nhau ở đúng một điểm: điều kiện để lệnh được đưa vào khớp. MARKET đổi quyền kiểm soát giá lấy sự chắc chắn vào được; LIMIT giữ quyền kiểm soát giá nhưng có thể nằm chờ mãi; STOP và STOP LIMIT nằm im đến khi giá chạm ngưỡng rồi mới kích hoạt (bảng dưới đối chiếu đủ bốn loại). Khung chọn cho người mới, giữ đơn giản có chủ đích: cần vào hoặc ra cho chắc thì MARKET; đã có mức giá cụ thể trong đầu và không vội thì LIMIT; muốn tự động thoát khi giá đi ngược thì STOP. Một chuyện dễ nhầm cần tách ra: ở đây stop chỉ là một loại lệnh trên phiếu lệnh, còn stop-loss với tư cách nguyên tắc quản trị rủi ro là chủ đề khác, đọc stop loss là gì. So sánh sâu bốn loại lệnh và tình huống nên dùng từng loại: phân biệt lệnh LIMIT, MARKET và STOP.

Loại lệnh Khớp khi nào Kiểm soát được giá? Người mới nên dùng khi
MARKET (MKT) Ngay lập tức, theo giá tốt nhất đang có Không Cần vào hoặc thoát cho chắc, chấp nhận giá thị trường
LIMIT (LMT) Khi giá chạm đúng mức bạn đặt Đã có mức giá mục tiêu và không cần vào ngay
STOP (STP) Kích hoạt tại ngưỡng, sau đó khớp như MARKET Không Đặt sẵn mức thoát tự động khi giá đi ngược
STOP LIMIT (STL) Kích hoạt tại ngưỡng, sau đó chờ như LIMIT Khi đã quen tay và chấp nhận rủi ro lệnh không khớp

Bước 4: sau khi bấm Gửi, lệnh chờ khác lệnh đã khớp ở chỗ nào

Bấm Gửi xong, lệnh của bạn rơi vào một trong hai trạng thái, và phần lớn cơn hoảng của người mới bắt nguồn từ chỗ tưởng mình vẫn còn rút lại được.

Lệnh đang chờ là lệnh đã gửi lên nhưng chưa có ai đối ứng ở mức giá đó, nên nó nằm trong sổ lệnh chờ và còn sửa, còn huỷ được, thường ngay trên dòng lệnh trong sổ. Lệnh đã khớp thì khác hẳn: khoảnh khắc khớp cũng là khoảnh khắc bạn có vị thế, và không phần mềm nào có nút rút lại một lệnh đã khớp. Muốn thoát, bạn phải đặt thêm một lệnh ngược chiều, làm thêm thao tác mới chứ không phải xoá thao tác cũ.

Lệnh đang chờ Lệnh đã khớp
Sửa giá hoặc khối lượng Được Không
Huỷ Được Không
Đã có vị thế chưa Chưa Rồi
Cách thoát Huỷ lệnh trong sổ lệnh chờ Đặt lệnh ngược chiều để đóng vị thế

Câu hỏi hay đi kèm là huỷ lệnh có mất phí không. Phần lớn biểu phí tính trên lệnh đã khớp, nhưng biểu phí do từng thành viên kinh doanh công bố nên có thể khác nhau; hãy đọc biểu phí của chính nơi bạn mở tài khoản thay vì tin một con số nghe được trong group nào đó, và xem cấu trúc chi phí chung ở phí giao dịch hàng hoá phái sinh. Còn chuyện đặt rồi mà mãi không thấy khớp, ba nguyên nhân hay gặp là giá chưa chạm mức LIMIT bạn đặt, thanh khoản ở mức giá đó quá mỏng, hoặc bạn đang đặt ngoài phiên giao dịch của mặt hàng. Đào sâu hai chủ đề này ở biên độ giá và lý do lệnh không khớpcách huỷ và sửa lệnh chưa khớp.

Bước 5: đóng vị thế, vì sao bấm Bán không phải lúc nào cũng là thoát lệnh

Đây là lỗi thao tác đắt nhất của người mới, và cũng là lý do đủ để bài này tồn tại. Người quen cổ phiếu mang theo một mặc định rất chắc trong đầu: mua là vào, bán là ra. Trong phái sinh, chiều thoát phụ thuộc vào chiều bạn đã mở, chứ không phụ thuộc vào chữ in trên nút.

Đóng vị thế long thì đặt lệnh BÁN, đóng vị thế short thì đặt lệnh MUA. Ai đang giữ vị thế short mà bấm Sell thêm lần nữa vì nghĩ mình đang thoát sẽ không thoát được gì cả; họ vừa nhân đôi vị thế short, và nhân đôi luôn phần rủi ro đang mở.

Cách kiểm tra an toàn trước khi bấm, theo đúng thứ tự: mở tab vị thế đang mở, đọc kỹ chiều và số lượng hợp đồng đang giữ, đặt lệnh ngược chiều đúng số lượng đó, rồi quay lại tab vị thế xem dòng đó đã biến mất chưa. Bước cuối hay bị bỏ, và nó chính là bước xác nhận bạn đã thoát thật.

Nhiều phần mềm có nút đóng nhanh ngay trên dòng vị thế, tên gọi có thể là Close, Square off hoặc Đóng vị thế. Dùng nút đó an toàn hơn tự gõ lệnh ngược, vì phần mềm điền sẵn chiều và số lượng nên bạn không có cơ hội gõ nhầm. Nếu số dư tài khoản thay đổi trong khi bạn chưa đóng gì, đó là cơ chế thanh toán lãi lỗ hàng ngày chứ không phải lỗi phần mềm; giữ vị thế qua đêm thì có thêm phí giữ hợp đồng qua đêm cần tính vào. Bài này nói bạn đóng bằng cách nào; câu hỏi nên đóng vào lúc nào thuộc về khi nào nên đóng lệnh sớm.

Giao dịch trên app điện thoại hay trên máy tính?

Phần mềm giao dịch hàng hóa phái sinh thường do thành viên kinh doanh của MXV cấp cho khách hàng của họ, nên giao diện, tên nút và cách bố trí sẽ khác nhau tuỳ nơi bạn mở tài khoản; bốn vùng và vòng đời lệnh mô tả ở trên thì không đổi. Quy chế giao dịch và các loại lệnh được sở chấp nhận công bố trên trang chính thức của MXV, đó là nơi nên tra khi hai nguồn nói khác nhau.

Máy tính hoặc bản web hơn ở màn hình rộng: đọc biểu đồ dễ hơn, phiếu lệnh hiện đủ trường cùng lúc, các lệnh có điều kiện như STOP LIMIT bớt cơ hội bấm nhầm khi bạn nhìn thấy hết mọi ô. App điện thoại hơn ở tốc độ can thiệp, đúng ràng buộc của người đi làm 9 giờ sáng đến 6 giờ chiều: giá chạy ngược lúc bạn đang họp thì app là thứ duy nhất bạn với tới được.

Cách ghép thực dụng cho người mới: phân tích và đặt lệnh gốc trên máy tính vào buổi tối, lúc bạn còn tỉnh táo để đọc lại phiếu lệnh; app chỉ dùng để theo dõi và xử lý tình huống trong ngày. Cài cả hai, nhưng đừng đặt lệnh mới trên app trong tháng đầu. So sánh chi tiết ở nên dùng app hay web để giao dịch.

6 lỗi thao tác người mới hay mắc

  1. Chọn nhầm tháng đáo hạn. Triệu chứng: giá trên phiếu lệnh lệch so với con số bạn vừa nhìn ở bảng giá, hoặc lệnh nằm im vì kỳ hạn đó gần như không ai giao dịch. Cách tránh: đọc lại mã hợp đồng ngay trước khi bấm Gửi, ký tự tháng nằm sẵn trong mã.
  2. Gõ số tiền vào ô khối lượng. Kết quả là vào lệnh lớn gấp nhiều lần ý định ban đầu, và bạn phát hiện ra khi nhìn phần ký quỹ bị chiếm. Cách tránh: cả tuần đầu trên demo, gõ 1 và chỉ gõ 1.
  3. Bấm Sell để thoát một vị thế short. Bạn không thoát, bạn vừa mở thêm. Cách tránh: đọc chiều ở tab vị thế trước khi đặt lệnh thoát, hoặc dùng nút đóng nhanh trên dòng vị thế.
  4. Dùng MARKET lúc thanh khoản mỏng. Lệnh khớp ở mức lệch khá xa giá bạn vừa nhìn thấy, rồi bạn tưởng phần mềm sai. Cách tránh: ngoài khung giờ sôi động của mặt hàng thì chuyển sang LIMIT, chi tiết ở biên độ giá và lý do lệnh không khớp.
  5. Đặt LIMIT xa giá thị trường rồi bỏ quên. Bạn tưởng lệnh đã tự hết hạn, hôm sau nó khớp lúc bạn đang họp, và nếu vị thế nằm qua đêm còn phát sinh thêm chi phí. Cách tránh: cuối mỗi buổi tối mở sổ lệnh chờ, huỷ những lệnh mình không còn muốn.
  6. Gửi lệnh khi chưa định trước mức thoát. Bạn buộc phải quyết định trong lúc đang lỗ, thời điểm tệ nhất để quyết định bất cứ chuyện gì. Cách tránh: viết mức cắt lỗ ra giấy hoặc điền sẵn vào phiếu lệnh trước khi bấm Gửi.

Tra theo đúng chỗ bạn vướng: 11 chủ đề con của cụm này

Không cần đọc hết, mở đúng bài ứng với bước bạn đang tắc.

Trước và trong lúc đặt lệnh: vị thế long, short, open, closed nghĩa là gì, hướng dẫn đặt lệnh mua/bán từng bước, phân biệt lệnh LIMIT, MARKET và STOP.

Sau khi lệnh đã gửi đi: cách huỷ và sửa lệnh chưa khớp, biên độ giá và lý do lệnh không khớp, cách xem vị thế đang mở và lịch sử lệnh.

Khi vị thế đã mở và cần thoát: khi nào nên đóng lệnh sớm, cơ chế thanh toán lãi lỗ hàng ngày, phí giữ hợp đồng qua đêm.

Chọn nền tảng và xem lại toàn bộ một lệnh: nên dùng app hay web để giao dịch, ví dụ một lệnh từ đầu đến cuối.

Bước tiếp theo

Bạn đang học rồi, nên phần này không phải lời mời mà là ba việc tự làm được ngay tối nay, hoàn toàn trên tài khoản demo.

Việc thứ nhất, mở phần mềm và chỉ tìm cho ra bốn vùng ở đầu bài, chưa đặt lệnh gì cả; mất khoảng năm phút và gỡ được nhiều ma sát hơn bạn tưởng. Việc thứ hai, đặt một lệnh LIMIT với 1 hợp đồng ở mức giá cố tình xa thị trường để nó nằm chờ, rồi tự tay sửa giá và huỷ nó, để quen thao tác sửa và huỷ vào lúc chưa có gì để mất. Việc thứ ba, đặt 1 lệnh MARKET với 1 hợp đồng và đóng lại trong một phút, để đi trọn vòng đời một lệnh ít nhất một lần.

Làm xong ba việc đó, đọc ví dụ một lệnh từ đầu đến cuối để đối chiếu với những gì bạn vừa bấm, gồm cả phần tính lãi lỗ ròng sau chi phí. Đọc kỹ trước, rồi tự quyết bằng dữ kiện của chính bạn.

Câu hỏi thường gặp

Đặt lệnh rồi mà không thấy khớp là vì sao?
Ba nguyên nhân hay gặp: giá chưa chạm mức LIMIT bạn đặt, thanh khoản ở mức giá đó quá mỏng, hoặc bạn đang đặt ngoài phiên giao dịch của mặt hàng. Mở sổ lệnh chờ xác nhận lệnh vẫn nằm đó trước khi đặt thêm, vì đặt chồng lệnh là cách nhanh nhất để có hai vị thế trong khi chỉ định mở một.

Huỷ lệnh phái sinh có mất phí không?
Phần lớn biểu phí tính trên lệnh đã khớp, nhưng biểu phí do từng thành viên kinh doanh công bố nên có thể khác nhau. Đọc biểu phí của chính nơi bạn mở tài khoản thay vì tin một con số nghe được ở đâu đó.

Sửa được giá và khối lượng của lệnh đã đặt không?
Sửa được nếu lệnh còn đang chờ, thường ngay trên dòng lệnh trong sổ. Lệnh đã khớp thì không sửa và không huỷ được, vì lúc đó nó đã thành vị thế và chỉ thoát được bằng một lệnh ngược chiều.

Đã mua hợp đồng rồi thì đóng vị thế bằng cách nào?
Đặt lệnh ngược chiều đúng số lượng hợp đồng đang giữ: vị thế long đóng bằng lệnh bán, short đóng bằng lệnh mua. Nút đóng nhanh trên dòng vị thế an toàn hơn tự gõ lệnh ngược.

Người mới nên dùng loại lệnh nào cho lệnh đầu tiên?
LIMIT với 1 hợp đồng trên demo là lựa chọn dễ kiểm soát nhất, vì bạn tự đặt giá và có thời gian sửa hoặc huỷ. Cần vào hoặc thoát cho chắc thì dùng MARKET và chấp nhận giá thị trường lúc đó.

Bài viết liên quan

Tiếp tục đọc về phân tích thị trường, kiến thức và chiến lược giao dịch.

Xem tất cả bài viết →
Bắt đầu hành trình của bạn

Sẵn sàng học giao dịch hàng hoá phái sinh?

Đăng ký tư vấn miễn phí - chuyên gia SFVN sẽ liên hệ trong 24h, gợi ý khoá học phù hợp với mục tiêu và kinh nghiệm của bạn.